Bộ luật Lao động 2019 đi vào cuộc sống đến nay đã hơn 2 tháng. Tuy nhiên các vấn đề Người sử dụng lao động (NSDLĐ) khấu trừ tiền lương để bồi thường thiệt hại do người lao động (NLĐ) gây ra; và khấu trừ như thế nào đang là quan tâm của nhiều người làm công ăn lương hiện nay…

Người sử dụng lao động được khấu trừ tiền lương để bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra

Khấu trừ tiền lương

Theo quy định hiện hành, khi NLĐ làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của NSDLĐ thì sẽ bị khấu trừ một khoản tiền lương để bồi thường thiệt hại đó. Vậy mức khấu trừ tiền lương thế nào?

Có 3 trường hợp NSDLĐ được khấu trừ lương NLĐ theo quy định tại Điều 129  là làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản; làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của NSDLĐ hoặc tài sản khác do NSDLĐ giao; và tiêu hao vật tư quá định mức cho phép.

Ngoài ra, Khoản 3 Điều 102 cũng  quy định, khi khấu trừ lương để thực trả cho các trường hợp gây thiệt quy định tại Điều 129 thì NSDLĐ chỉ được phép khấu trừ không quá  30% tiền lương thực trả hằng tháng của NLĐ sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm  bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.

Theo đó, Luật cũng quy định mức bồi thường trong từng trường hợp cụ thể. NLĐ có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình.

Trường hợp làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của NSDLĐ: Bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động;

Trường hợp NLĐ gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng: Bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương;

 

Trường hợp làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của NSDLĐ hoặc tài sản khác do NSDLĐ giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép: Bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá  hoặc nội quy lao động, nếu có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm;

Trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

Hành vi người sử dụng lao động trốn tránh, cũng như người lao động thỏa thuận né đóng BHXH đều bị xử phạt

Mức phạt hành vi không đóng BHXH

Hiện nay, tình trạng NSDLĐ khi tuyển dụng thường để quyền lợi NLĐ là được đóng BHXH và NLĐ ngầm hiểu đây là quyền lợi mà công ty mang lại cho mình, nhưng ít ai nhận ra đây là trách nhiệm của NSDLĐ bắt buộc phải thực hiện, nếu không thực hiện sẽ bị phạt theo quy định của pháp luật.

Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 chỉ ra hàng loạt các hành vi nghiêm cấm NSDLĐ là: Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; Chậm đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp không đúng pháp luật; Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, người sử dụng lao động; Truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Báo cáo sai sự thật; cung cấp thông tin, số liệu không chính xác về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

Bên cạnh đó, Luật BHXH 2014 cũng quy định NLĐ có quyền được tham gia và hưởng các chế độ BHXH, hưởng bảo hiểm y tế, và NSDLĐ phải có trách nhiệm đóng BHXH theo quy định của Luật này. Điều 33 Nghị định 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 cũng quy định mức phạt liên quan đến hành vi đóng BHXH bắt buộc, BHTN với NLĐ.

NSDLĐ có trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ kể từ khi ký hợp đồng lao động, nếu NLĐ ký hợp đồng thử việc thì sẽ không phải đóng BHXH. Khi hết thời gian thử việc, NSDLĐ bắt buộc phải đóng BHXH cho NLĐ vì đây là trách nhiệm của NSDLĐ và cũng là quyền lợi mặc định có của NLĐ.

Theo Nhã Vy/tieudung.vn
 
 
 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây